Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm ♦ Quyển 17
Lúc bấy giờ Chánh Niệm Thiên Tử thưa với Pháp Tuệ Bồ-tát rằng:
"Phật tử! Chư Bồ-tát chúng ở trong tất cả thế giới nương lời dạy của Như Lai, mặc áo nhuộm màu, và xuất gia. Làm sao họ được tịnh hành thanh tịnh và từ Bồ-tát vị đến tuệ giác vô thượng?"
Pháp Tuệ Bồ-tát bảo rằng:
"Phật tử! Khi tu tập tịnh hành, đại Bồ-tát nên dùng mười pháp mà làm chỗ duyên để tác khởi ý quán sát, gồm có: thân, thân nghiệp, ngữ, ngữ nghiệp, ý, ý nghiệp, Phật, Pháp, Tăng, giới.
Nên quán sát như vầy:
'Có phải thân là tịnh hành chăng?'
Và cho đến,
'Có phải giới là tịnh hành chăng?'
Nếu thân là tịnh hành, thì nên biết tịnh hành tức là chẳng phải thiện, tức là chẳng phải Pháp, tức là vẩn đục, tức là xú ác, tức là bất tịnh, tức là chán ghét, tức là trái nghịch, tức là tạp nhiễm, tức là tử thi, hoặc tức là ổ trùng.
Nếu thân nghiệp là tịnh hành, thì nên biết tịnh hành tức là đi đứng nằm ngồi, nhìn trái ngó phải, co duỗi chân tay, hoặc khom xuống ngước lên.
Nếu ngữ là tịnh hành, thì nên biết tịnh hành tức là âm thanh, hơi thở, môi lưỡi miệng họng, hít vào thở ra, giữ lại phóng thả, thanh điệu cao thấp, hoặc giọng nói khàn đục hay trong trẻo.
Nếu ngữ nghiệp là tịnh hành, thì nên biết tịnh hành tức là lời chào hỏi han, lời nói sơ lược, lời nói giảng rộng, lời nói thí dụ, lời nói trực tiếp, lời nói ca ngợi, lời nói chê bai, lời nói thông thường, lời nói tùy thế tục, hoặc lời nói giải thích rõ.
Nếu ý là tịnh hành, thì nên biết tịnh hành tức là quan niệm, là suy luận, là phân biệt, là đủ mọi phân biệt, là hồi tưởng, là đủ mọi hồi tưởng, là suy tư, là đủ mọi suy tư, là huyễn thuật, hoặc là nằm mơ.
Nếu ý nghiệp là tịnh hành, thì nên biết tịnh hành tức là nghĩ tưởng, nóng lạnh, đói khát, khổ lạc, ưu sầu, hoặc hoan hỷ.
Nếu Phật là tịnh hành, thì có phải sắc là Phật chăng?
- Có phải thọ là Phật chăng?
- Có phải tưởng là Phật chăng?
- Có phải hành là Phật chăng?
- Có phải thức là Phật chăng?
- Có phải các tướng là Phật chăng?
- Có phải vẻ đẹp là Phật chăng?
- Có phải thần thông là Phật chăng?
- Có phải nghiệp hành là Phật chăng?
- Có phải quả báo là Phật chăng?
Nếu Pháp là tịnh hành, thì có phải tịch diệt là Pháp chăng?
- Có phải diệt độ là Pháp chăng?
- Có phải không sanh là Pháp chăng?
- Có phải không khởi là Pháp chăng?
- Có phải bất khả thuyết là Pháp chăng?
- Có phải không phân biệt là Pháp chăng?
- Có phải không chỗ hành là Pháp chăng?
- Có phải không hợp tập là Pháp chăng?
Nếu Tăng là tịnh hành, thì có phải Hướng Dự Lưu là Tăng chăng?
- Có phải Quả Dự Lưu là Tăng chăng?
- Có phải Hướng Nhất Lai là Tăng chăng?
- Có phải Quả Nhất Lai là Tăng chăng?
- Có phải Hướng Bất Hoàn là Tăng chăng?
- Có phải Quả Bất Hoàn là Tăng chăng?
- Có phải Hướng Ưng Chân là Tăng chăng?
- Có phải Đạo Ưng Chân là Tăng chăng?
- Có phải Ba Minh là Tăng chăng?
- Có phải Sáu Thần Thông là Tăng chăng?
Nếu giới là tịnh hành, thì có phải đàn tràng là giới chăng?
- Có phải chất vấn thanh tịnh là giới chăng?
- Có phải dạy uy nghi là giới chăng?
- Có phải ba lần tuyên bố Pháp sự nghiệp là giới chăng?
- Có phải hòa thượng là giới chăng?
- Có phải giáo thọ là giới chăng?
- Có phải cạo đầu là giới chăng?
- Có phải mặc Pháp y là giới chăng?
- Có phải khất thực là giới chăng?
- Có phải chánh mạng là giới chăng?
Một khi đã quán sát như thế rồi, họ sẽ không chỗ nắm giữ nơi thân, không chỗ chấp trước trong sự tu hành, không chỗ trụ đối với các pháp, quá khứ đã diệt mất, vị lai còn chưa đến, hiện tại rỗng không vắng lặng, không người tạo tác nghiệp, không người thọ báo ứng, đời này chẳng chuyển dời, và đời kia chẳng đổi thay.
Pháp nào ở trong những cái đó gọi là tịnh hành?
- Tịnh hành đến từ nơi nào?
- Ai sở hữu nó?
- Thể chất của nó là gì?
- Ai làm ra nó?
- Nó có tồn tại hay không tồn tại?
- Nó là sắc hay chẳng phải sắc?
- Nó là thọ hay chẳng phải thọ?
- Nó là tưởng hay chẳng phải tưởng?
- Nó là hành hay chẳng phải hành?
- Nó là thức hay chẳng phải thức?
Hãy quán sát như vầy:
- bởi vì Pháp tịnh hành không thể được;
- bởi vì các pháp ở ba đời đều rỗng không và vắng lặng;
- bởi vì ý chẳng có chỗ nắm giữ hay chấp trước;
- bởi vì tâm không chướng ngại;
- bởi vì chỗ thực hành là chẳng hai;
- bởi vì được tự tại của phương tiện;
- bởi vì thọ nhận Pháp vô tướng;
- bởi vì quán sát Pháp vô tướng;
- bởi vì biết bình đẳng của Phật Pháp;
- và bởi vì đầy đủ tất cả Pháp của Phật.
Các nhân tố như thế gọi là tịnh hành thanh tịnh.
Lại nên tu tập mười loại Pháp. Những gì là mười? Đó là:
- sự hiểu biết rõ về cái gì có thể và không thể;
- sự hiểu biết rõ về nghiệp báo của quá khứ, hiện tại, cùng vị lai;
- sự hiểu biết rõ về tĩnh lự, giải thoát, và Đẳng Trì;
- sự hiểu biết rõ về ưu việt và hạ liệt của các căn;
- sự hiểu biết rõ về đủ mọi liễu giải;
- sự hiểu biết rõ về đủ mọi cõi giới;
- sự hiểu biết rõ về điểm đến của tất cả đường;
- sự hiểu biết của thiên nhãn không bị chướng ngại;
- sự hiểu biết rõ về việc đời trước chẳng bị ngăn ngại;
- và sự hiểu biết của vĩnh viễn đoạn trừ tập khí.
Như ai quán sát mỗi lực trong Mười Lực này của Như Lai, họ sẽ thấy trong mỗi Lực có vô lượng nghĩa mà phải nên đi hỏi. Khi đã nghe chúng rồi, người ấy nên khởi lòng đại từ bi và quán sát chúng sanh mà chẳng lìa bỏ họ. Người ấy tư duy các pháp không hề ngừng nghỉ, tu hành nghiệp vô thượng mà chẳng cầu quả báo, biết rõ cảnh giới như huyễn, như mộng, như phản chiếu, như tiếng dội, và cũng như biến hóa.
Nếu chư Bồ-tát có thể thực hành quán sát tương ứng như thế, họ sẽ không sanh sự hiểu biết hai mặt ở trong các pháp. Hết thảy Pháp của Phật sẽ mau hiện ra ở trước họ. Khi sơ phát tâm, họ liền đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Họ biết tất cả pháp tức như tự tánh của tâm, thành tựu thân trí tuệ, và tự mình giác ngộ mà chẳng nhờ người khác."
Lúc bấy giờ Năng Thiên Đế thưa với Pháp Tuệ Bồ-tát rằng:
"Phật tử! Bồ-tát sơ phát khởi Đạo tâm sẽ có được bao nhiêu công đức?
Pháp Tuệ Bồ-tát bảo rằng:
"Ý nghĩa này sâu xa, khó nói, khó biết, khó phân biệt, khó tín giải, khó chứng, khó hành, khó thông đạt, khó tư duy, khó suy lường, và khó xuyên vào. Tuy nhiên, tôi sẽ nương sức uy thần của Phật mà giảng giải cho ngài.
"Phật tử! Giả sử có người dùng đủ mọi vật yêu thích để cúng dường suốt một kiếp cho toàn bộ chúng sanh trong vô số thế giới về hướng đông, rồi sau đó dạy bảo và khiến họ thanh tịnh thọ trì Năm Giới. Tây nam bắc phương, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới thì cũng lại như vậy.
Phật tử! Ý ngài nghĩ sao? Công đức của người ấy có nhiều chăng?"
Thiên đế thưa rằng:
"Phật tử! Công đức của người ấy thì chỉ Phật mới có thể biết. Còn tất cả mọi người khác, không ai có thể suy lường."
Pháp Tuệ Bồ-tát bảo rằng:
"Phật tử! Công đức của người ấy mà so với công đức của Bồ-tát sơ phát tâm, thì không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, và không bằng một phần của trăm ngàn. Tương tự như thế, chúng không bằng một phần của 10 triệu, một phần của 1 tỷ, một phần của 10 tỷ, một phần của 1.000 tỷ, một phần của 1 nayuta [na du ta], một phần của 100 nayuta, một phần của 1.000 nayuta, một phần của 100.000 nayuta, một phần toán số thí dụ, và cho đến một phần cực vi tế thì cũng không bằng.
Phật tử! Hãy thiết lập thí dụ này. Giả sử có người dùng đủ mọi vật yêu thích để cúng dường suốt 100 kiếp cho toàn bộ chúng sanh trong mười vô số thế giới khắp mười phương, rồi sau đó dạy bảo và khiến họ tu tập Mười Nghiệp Lành. Sau khi đã cúng dường như thế,
- trải qua 1.000 kiếp, rồi dạy họ trụ Bốn Cảnh Giới Tĩnh Lự;
- trải qua 100.000 kiếp, rồi dạy họ trụ Bốn Vô Lượng Tâm;
- trải qua 10 triệu kiếp, rồi dạy họ trụ Bốn Vô Sắc Định;
- trải qua 1 tỷ kiếp, rồi dạy họ trụ Quả Dự Lưu;
- trải qua 10 tỷ kiếp, rồi dạy họ trụ Quả Nhất Lai;
- trải qua 1.000 tỷ kiếp, rồi dạy họ trụ Quả Bất Hoàn;
- trải qua 10 triệu nayuta kiếp, rồi dạy họ trụ Đạo Ưng Chân;
- trải qua 1.000 tỷ nayuta kiếp, rồi dạy họ trụ Đạo Độc Giác.
Phật tử! Ý ngài nghĩ sao? Công đức của người ấy có nhiều chăng?"
Thiên đế thưa rằng:
"Phật tử! Công đức của người ấy thì chỉ Phật mới có thể biết."
Pháp Tuệ Bồ-tát bảo rằng:
"Phật tử! Công đức của người ấy mà so với công đức của Bồ-tát sơ phát tâm, thì không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, không bằng một phần của trăm ngàn, và cho đến một phần cực vi tế thì cũng không bằng.
Vì sao thế, Phật tử? Bởi khi hết thảy chư Phật sơ phát tâm, các ngài phát khởi Đạo tâm chẳng phải chỉ vì muốn dùng đủ mọi vật yêu thích để cúng dường suốt 100 kiếp và thậm chí 100.000 nayuta kiếp cho toàn bộ chúng sanh trong mười vô số thế giới khắp mười phương. Các ngài phát khởi Đạo tâm chẳng phải chỉ vì muốn dạy một số chúng sanh nào đó và khiến họ tu trì Năm Giới hay Mười Nghiệp Lành; hoặc dạy họ trụ Bốn Cảnh Giới Tĩnh Lự, Bốn Vô Lượng Tâm, hay Bốn Vô Sắc Định; hoặc dạy họ đắc Quả Dự Lưu, Quả Nhất Lai, Quả Bất Hoàn, Đạo Ưng Chân, hay Đạo Độc Giác.
Vì khiến mạng mạch của Như Lai không bị đứt đoạn;
- vì làm cho Pháp của Phật bao trùm tất cả thế giới;
- vì độ thoát chúng sanh trong tất cả thế giới;
- vì muốn biết hết sự thành lập và hoại diệt của tất cả thế giới;
- vì muốn biết hết cấu nhiễm và thanh tịnh của chúng sanh trong tất cả thế giới;
- vì muốn biết hết tự tánh thanh tịnh của tất cả thế giới;
- vì muốn biết hết lòng mong muốn, phiền não, và tập khí của tất cả chúng sanh;
- vì muốn biết hết về khi chết ở đây rồi sanh nơi kia của tất cả chúng sanh;
- vì muốn biết hết các căn và phương tiện của tất cả chúng sanh;
- vì muốn biết hết tâm hành của tất cả chúng sanh;
- vì muốn biết hết sự hiểu biết khắp ba đời của tất cả chúng sanh;
- và vì muốn biết hết cảnh giới bình đẳng của tất cả chư Phật
mà các ngài phát khởi Đạo tâm vô thượng:
❖
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử có người với thời gian chỉ một niệm, họ có thể đi qua vô số thế giới ở hướng đông, và trong từng niệm như thế cho đến hết vô số kiếp. Không ai có thể biết được ranh giới của những thế giới đó.
Giả sử lại có người thứ nhì với thời gian chỉ một niệm, họ có thể đi qua hơn vô số thế giới mà người ở trước phải dùng vô số kiếp mới đi qua được. Người ấy tiếp tục làm như thế cho đến hết vô số kiếp. Thứ tự triển chuyển như thế cho đến người thứ mười. Tây nam bắc phương, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới thì cũng lại như vậy.
Phật tử! 100 người trong mười phương này, mỗi người đi qua các thế giới như thế, và ranh giới của tất cả thế giới ấy còn có thể biết. Tuy nhiên, căn lành có được của Bồ-tát khi sơ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì không ai có thể biết được ranh giới đó.
Vì sao thế, Phật tử? Bởi Bồ-tát phát khởi Đạo tâm, không giới hạn chỉ vì đi đến để biết rõ một số thế giới nào đó.
Bồ-tát phát khởi Đạo tâm là vì muốn biết rõ tất cả thế giới trong mười phương, gồm có:
Muốn biết rõ thế giới vi diệu tức là thế giới thô sơ,
- thế giới thô sơ tức là thế giới vi diệu,
- thế giới hướng lên tức là thế giới đảo ngược,
- thế giới đảo ngược tức là thế giới hướng lên,
- thế giới nhỏ tức là thế giới lớn,
- thế giới lớn tức là thế giới nhỏ,
- thế giới rộng tức là thế giới hẹp,
- thế giới hẹp tức là thế giới rộng,
- một thế giới tức là bất khả thuyết thế giới,
- bất khả thuyết thế giới tức là một thế giới,
- bất khả thuyết thế giới vào một thế giới,
- một thế giới vào bất khả thuyết thế giới,
- thế giới uế trược tức là thế giới thanh tịnh,
- và thế giới thanh tịnh tức là thế giới uế trược;
Muốn biết trên đầu một sợi lông có tánh sai khác của hết thảy thế giới và ở trong tất cả thế giới đều có thể phân biệt biết một thể tánh của một sợi lông;
Muốn biết trong một thế giới sanh ra tất cả thế giới;
Muốn biết tất cả thế giới đều không có thể tánh nào;
Và muốn dùng một niệm để biết hết tất cả thế giới rộng lớn mà chẳng bị chướng ngại.
Cho nên đây là những điều mà Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
❖
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử có người với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết số lượng kiếp thành lập và hoại diệt khắp vô số thế giới ở hướng đông, và trong từng niệm như thế cho đến hết vô số kiếp. Không ai có thể biết được ranh giới của những kiếp số đó.
Giả sử lại có người thứ nhì với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết số lượng kiếp thành lập và hoại diệt khắp vô số thế giới mà người ở trước phải dùng vô số kiếp mới biết được. Hãy rộng nói như thế cho đến người thứ mười. Tây nam bắc phương, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới thì cũng lại như vậy.
Phật tử! Số lượng kiếp thành lập và hoại diệt của vô số thế giới khắp mười phương này còn có thể biết được ranh giới. Tuy nhiên, công đức và căn lành có được của Bồ-tát khi sơ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì không ai có thể biết được ranh giới đó.
Vì sao thế? Bởi Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không giới hạn chỉ vì để biết kiếp số thành lập và hoại diệt của một số thế giới nào đó.
Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là vì muốn biết hết chẳng chút thừa sót về số kiếp thành lập và hoại diệt của tất cả thế giới, gồm có:
- muốn biết bình đẳng của kiếp dài với kiếp ngắn và bình đẳng của kiếp ngắn với kiếp dài;
- muốn biết bình đẳng của một kiếp với vô số kiếp và bình đẳng của vô số kiếp với một kiếp;
- muốn biết bình đẳng của kiếp có Phật với kiếp không có Phật và bình đẳng của kiếp không có Phật với kiếp có Phật;
- muốn biết trong một kiếp có một vị Phật tức có bất khả thuyết chư Phật và trong một kiếp có bất khả thuyết chư Phật tức có một vị Phật;
- muốn biết bình đẳng của hữu lượng kiếp với vô lượng kiếp và bình đẳng của vô lượng kiếp với hữu lượng kiếp;
- muốn biết bình đẳng của hữu tận kiếp với vô tận kiếp và bình đẳng của vô tận kiếp với hữu tận kiếp;
- muốn biết bình đẳng của bất khả thuyết kiếp với một niệm và bình đẳng của một niệm với bất khả thuyết kiếp;
- muốn biết tất cả kiếp vào chẳng phải kiếp và chẳng phải kiếp vào tất cả kiếp;
- muốn trong một niệm biết hết số kiếp thành lập và hoại diệt của tất cả thế giới ở quá khứ, hiện tại, cùng vị lai.
Cho nên đây là những điều mà Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây gọi là thần thông và sự hiểu biết rõ tất cả kiếp của bậc sơ phát tâm với đại thệ nguyện trang nghiêm.
❖
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử có người với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết đủ mọi hiểu biết khác nhau của toàn bộ chúng sanh khắp vô số thế giới ở hướng đông, và trong từng niệm như thế cho đến hết vô số kiếp.
Giả sử lại có người thứ nhì với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết đủ mọi hiểu biết khác nhau của toàn bộ chúng sanh khắp vô số thế giới mà người ở trước phải dùng vô số kiếp mới biết được. Người ấy tiếp tục làm như thế cho đến hết vô số kiếp. Thứ tự triển chuyển như thế cho đến người thứ mười. Tây nam bắc phương, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới thì cũng lại như vậy.
Phật tử! Đủ mọi hiểu biết khác nhau của toàn bộ chúng sanh khắp mười phương này còn có thể biết được ranh giới. Tuy nhiên, công đức và căn lành có được của Bồ-tát khi sơ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì không ai có thể biết được ranh giới đó.
Vì sao thế, Phật tử? Bởi Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không giới hạn chỉ vì để biết đủ mọi hiểu biết khác nhau của một số chúng sanh nào đó.
Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là vì muốn biết hết đủ mọi hiểu biết khác nhau của toàn bộ chúng sanh trong tất cả thế giới, gồm có:
- bởi vì muốn biết tất cả vô biên sự hiểu biết sai khác;
- bởi vì muốn biết bình đẳng về sự hiểu biết của một chúng sanh với sự hiểu biết của vô số chúng sanh;
- bởi vì muốn được ánh sáng của phương tiện cùng sự hiểu biết thích hợp với bất khả thuyết sự liễu giải sai khác;
- bởi vì muốn biết hết chẳng chút thừa sót về mỗi một sự hiểu biết sai khác của mọi loài trong biển chúng sanh;
- bởi vì muốn biết hết vô lượng đủ mọi hiểu biết của thiện và bất thiện ở quá khứ, hiện tại, cùng vị lai;
- bởi vì muốn biết hết sự hiểu biết tương tự và sự hiểu biết không tương tự;
- bởi vì muốn biết hết tất cả sự hiểu biết tức là một sự hiểu biết và một sự hiểu biết tức là tất cả sự hiểu biết;
- bởi vì muốn được sức hiểu biết của Như Lai;
- bởi vì muốn biết hết những sai khác của sự hiểu biết trội hơn, sự hiểu biết không ai hơn, sự hiểu biết còn dư, sự hiểu biết không còn dư, sự hiểu biết bằng nhau, và sự hiểu biết không bằng nhau;
- bởi vì muốn biết hết những sai khác của sự hiểu biết phụ thuộc, sự hiểu biết độc lập, sự hiểu biết phân chia, sự hiểu biết riêng biệt, sự hiểu biết có giới hạn, sự hiểu biết chẳng giới hạn, sự hiểu biết sai khác, sự hiểu biết chẳng sai khác, sự hiểu biết thiện, sự hiểu biết bất thiện, sự hiểu biết thế gian, và sự hiểu biết xuất thế gian;
- bởi vì muốn ở trong tất cả sự liễu giải vi diệu, sự liễu giải lớn lao, sự liễu giải vô lượng, và sự liễu giải chánh vị mà được sự hiểu biết không chướng ngại từ giải thoát của Như Lai;
- bởi vì muốn dùng vô lượng phương tiện để biết hết chẳng chút thừa sót của mỗi một chúng sanh trong tất cả cõi giới chúng sanh khắp mười phương về sự hiểu biết thanh tịnh, sự hiểu biết cấu nhiễm, sự hiểu biết rộng rãi, sự hiểu biết sơ lược, sự hiểu biết vi tế, và sự hiểu biết thô thiển;
- bởi vì muốn biết hết chẳng chút thừa sót về sự hiểu biết thâm mật, sự hiểu biết phương tiện, sự hiểu biết phân biệt, sự hiểu biết tự nhiên, sự hiểu biết theo nhân sanh khởi, sự hiểu biết theo duyên sanh khởi, và mạng lưới của tất cả sự hiểu biết.
Cho nên đây là những điều mà Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
❖
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử có người với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết mọi căn khác nhau của tất cả chúng sanh khắp vô số thế giới ở hướng đông, và trong từng niệm như thế cho đến hết vô số kiếp.
Giả sử lại có người thứ nhì với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết đủ mọi căn khác nhau của tất cả chúng sanh khắp vô số thế giới mà người ở trước phải dùng vô số kiếp mới biết được. Hãy rộng nói như thế cho đến người thứ mười. Tây nam bắc phương, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới thì cũng lại như vậy.
Phật tử! Đủ mọi căn khác nhau của toàn bộ chúng sanh trong các thế giới khắp mười phương này còn có thể biết được ranh giới. Tuy nhiên, công đức và căn lành có được của Bồ-tát khi sơ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì không ai có thể biết được ranh giới đó.
Vì sao thế? Bởi Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không giới hạn chỉ vì để biết đủ mọi căn khác nhau của toàn bộ chúng sanh trong một số thế giới nào đó.
Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là vì muốn biết hết đủ mọi căn khác nhau của toàn bộ chúng sanh trong tất cả thế giới. Và rộng nói như thế cho đến: là vì muốn biết hết mạng lưới của tất cả mọi căn.
❖
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử có người với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết đủ mọi khát vọng của toàn bộ chúng sanh khắp vô số thế giới ở hướng đông, và trong từng niệm như thế cho đến hết vô số kiếp. Hãy rộng nói như thế cho đến người thứ mười. Tây nam bắc phương, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới thì cũng lại như vậy.
Đủ mọi khát vọng của toàn bộ chúng sanh khắp mười phương này còn có thể biết được ranh giới. Tuy nhiên, công đức và căn lành có được của Bồ-tát khi sơ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì không ai có thể biết được ranh giới đó.
Vì sao thế, Phật tử? Bởi Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không giới hạn chỉ vì để biết đủ mọi khát vọng của một số chúng sanh nào đó.
Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là vì muốn biết hết đủ mọi khát vọng của toàn bộ chúng sanh trong tất cả thế giới. Và rộng nói như thế cho đến: là vì muốn biết hết mạng lưới của tất cả khát vọng.
❖
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử có người với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết đủ mọi phương tiện của toàn bộ chúng sanh khắp vô số thế giới ở hướng đông, và trong từng niệm như thế cho đến hết vô số kiếp. Hãy rộng nói như thế cho đến người thứ mười. Tây nam bắc phương, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới thì cũng lại như vậy.
Đủ mọi phương tiện của toàn bộ chúng sanh khắp mười phương này còn có thể biết được ranh giới. Tuy nhiên, công đức và căn lành có được của Bồ-tát khi sơ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì không ai có thể biết được ranh giới đó.
Vì sao thế, Phật tử? Bởi Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không giới hạn chỉ vì để biết đủ mọi phương tiện của một số chúng sanh nào đó.
Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là vì muốn biết hết đủ mọi phương tiện của toàn bộ chúng sanh trong tất cả thế giới. Và rộng nói như thế cho đến: là vì muốn biết hết mạng lưới của tất cả phương tiện.
❖
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử có người với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết đủ mọi tâm khác nhau của toàn bộ chúng sanh khắp vô số thế giới ở hướng đông.
Và rộng nói như thế cho đến:
Đủ mọi tâm khác nhau của toàn bộ chúng sanh khắp mười phương này còn có thể biết được ranh giới. Tuy nhiên, công đức và căn lành có được của Bồ-tát khi sơ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì không ai có thể biết được ranh giới đó.
Vì sao thế, Phật tử? Bởi Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không giới hạn chỉ vì để biết đủ mọi tâm khác nhau của một số chúng sanh nào đó.
Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là vì muốn biết hết đủ mọi tâm khác nhau của vô biên chúng sanh khắp tận cùng của Pháp Giới và cõi giới hư không, và cho đến muốn biết hết mạng lưới của tất cả tâm khác nhau.
❖
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử có người với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết đủ mọi nghiệp khác nhau của toàn bộ chúng sanh khắp vô số thế giới ở hướng đông.
Và rộng nói như thế cho đến:
Đủ mọi nghiệp khác nhau của toàn bộ chúng sanh khắp mười phương này còn có thể biết được ranh giới. Tuy nhiên, căn lành có được của Bồ-tát khi sơ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì không ai có thể biết được ranh giới đó.
Vì sao thế, Phật tử? Bởi Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không giới hạn chỉ vì để biết đủ mọi nghiệp khác nhau của một số chúng sanh nào đó.
Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là vì muốn biết hết đủ mọi nghiệp khác nhau của toàn bộ chúng sanh trong ba đời, và cho đến muốn biết hết mạng lưới của tất cả nghiệp khác nhau.
❖
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử có người với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết đủ mọi phiền não khác nhau của toàn bộ chúng sanh khắp vô số thế giới ở hướng đông, và trong từng niệm như thế cho đến hết vô số kiếp. Không ai có thể biết được ranh giới của đủ mọi phiền não khác nhau đó.
Giả sử lại có người thứ nhì với thời gian chỉ một niệm, họ có thể biết đủ mọi phiền não khác nhau của tất cả chúng sanh khắp vô số thế giới mà người ở trước phải dùng vô số kiếp mới biết được. Hãy rộng nói như thế cho đến người thứ mười. Tây nam bắc phương, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới thì cũng lại như vậy.
Phật tử! Đủ mọi phiền não khác nhau của toàn bộ chúng sanh khắp mười phương này còn có thể biết được ranh giới. Tuy nhiên, căn lành có được của Bồ-tát khi sơ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì không ai có thể biết được ranh giới đó.
Vì sao thế, Phật tử? Bởi Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không giới hạn chỉ vì để biết đủ mọi phiền não khác nhau của toàn bộ chúng sanh trong một số thế giới nào đó.
Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là vì muốn biết hết đủ mọi phiền não khác nhau của toàn bộ chúng sanh trong tất cả thế giới, gồm có:
- vì muốn biết hết phiền não nhẹ, phiền não nặng, phiền não tiềm tàng, phiền não hiện khởi, đủ mọi sai khác ở trong vô lượng phiền não của mỗi một chúng sanh, và đủ mọi quan niệm cùng suy luận, rồi để mà trừ sạch tất cả mọi tạp nhiễm;
- vì muốn biết hết phiền não nương dựa vô minh và phiền não tương ứng tham ái, rồi để mà chặt đứt mọi phiền não trói buộc trong tất cả cõi;
- vì muốn biết hết phiền não từ tham dục, phiền não từ sân hận, phiền não từ si mê, và phiền não từ mỗi phần bằng nhau của ba độc, rồi để mà đoạn trừ căn gốc của tất cả phiền não;
- vì muốn biết hết phiền não liên hợp với ngã, phiền não liên hợp thuộc của ngã, và phiền não liên hợp với ngã mạn, rồi để mà giác ngộ tất cả phiền não--không chút thừa sót;
- vì muốn biết hết do từ điên đảo phân biệt mà sanh ra phiền não căn bổn cùng phiền não phụ thuộc, và nhân bởi cái thấy có bản thân tồn tại mà khởi sanh 62 quan điểm, rồi để mà điều phục tất cả phiền não;
- vì muốn biết hết phiền não liên quan đến năm sự ngăn che và phiền não liên quan đến sự chướng ngại, rồi để mà phát tâm đại bi cứu hộ, cắt đứt tấm lưới của tất cả phiền não, và làm cho tánh của Nhất Thiết Trí được thanh tịnh.
Cho nên đây là những điều mà Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
❖
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử có người với thời gian chỉ một niệm, họ dùng đủ mọi ẩm thực thượng vị, hương hoa y phục, biểu ngữ, cờ hiệu, lọng che, tự viện, cung điện thượng diệu, lều báu, rèm lưới, tòa sư tử với muôn thứ trang nghiêm, cùng nhiều loại báu vi diệu để cúng dường cho vô số chư Phật ở hướng đông và cũng như toàn bộ chúng sanh trong vô số thế giới. Suốt vô số kiếp liên tục không gián đoạn, họ cung kính tôn trọng, lễ bái tán thán, và cúi mình chiêm ngưỡng.
Họ lại khuyên bảo và khiến các chúng sanh kia cúng dường chư Phật với phương pháp như vậy cho đến khi tất cả chư Phật đều vào tịch diệt, rồi sau đó khởi xây tháp cho mỗi vị. Các ngôi tháp đó cao rộng và hiện diện trong vô số thế giới. Chúng được làm bằng nhiều loại báu và có đủ mọi trang nghiêm. Trong từng mỗi ngôi tháp đều có vô số hình tượng của Như Lai với ánh sáng chiếu khắp vô số thế giới.
Trải qua vô số kiếp, họ tiếp tục cũng làm như thế. Tây nam bắc phương, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới thì cũng lại như vậy.
Phật tử! Ý ngài nghĩ sao? Công đức của người ấy có nhiều chăng?"
Thiên đế thưa rằng:
"[Phật tử!] Công đức của người ấy thì chỉ Phật mới có thể biết. Còn tất cả mọi người khác, không ai có thể suy lường."
[Pháp Tuệ Bồ-tát bảo rằng:]
"Phật tử! Công đức của người ấy mà so với công đức của Bồ-tát sơ phát tâm, thì không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, không bằng một phần của trăm ngàn, và cho đến một phần cực vi tế thì cũng không bằng.
Phật tử! Lại thiết lập thí dụ này. Giả sử lại có người thứ nhì với thời gian chỉ một niệm, họ có thể làm mọi việc cúng dường mà người ở trước cùng toàn bộ chúng sanh khắp vô số thế giới đã cúng dường suốt vô số kiếp. Trong từng niệm như thế cho đến hết vô số kiếp, họ dùng vô lượng loại phẩm vật cúng dường để cúng dường cho vô lượng chư Phật Như Lai và cũng như toàn bộ chúng sanh trong vô lượng thế giới.
Người thứ ba cho đến người thứ mười thì cũng đều như vậy. Với thời gian chỉ một niệm, họ có thể làm toàn bộ cúng dường của người ở trước. Trong từng niệm như thế, họ dùng vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả thuyết phẩm vật cúng dường để cúng dường cho vô biên và cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật cùng toàn bộ chúng sanh trong tất cả thế giới đó. Họ làm như thế suốt vô biên và cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp. Và cho đến khi tất cả chư Phật đều vào tịch diệt, rồi sau đó khởi xây tháp cho mỗi vị; các ngôi tháp đó vừa cao vừa rộng. Họ tiếp tục cũng làm như thế cho đến suốt kiếp trụ.
Phật tử! Công đức được miêu tả ở trên mà so với công đức của Bồ-tát sơ phát tâm, thì không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, không bằng một phần của trăm ngàn, và cho đến một phần cực vi tế thì cũng không bằng.
Vì sao thế, Phật tử? Bởi đại Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không giới hạn chỉ vì để cúng dường cho một số chư Phật nào đó.
Bồ-tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là vì muốn cúng dường toàn bộ vô lượng bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật ở quá khứ, hiện tại, cùng vị lai trong mười phương khắp tận cùng của Pháp Giới và cõi giới hư không.
Khi đã phát khởi tâm này, họ có thể biết những việc từ lúc mới thành chánh giác cho đến vào Cứu Cánh Tịch Diệt của hết thảy chư Phật ở quá khứ, có thể tin toàn bộ căn lành của hết thảy chư Phật ở vị lai, và có thể biết toàn bộ trí tuệ của hết thảy chư Phật ở hiện tại. Đối với toàn bộ công đức của chư Phật kia, vị Bồ-tát này có thể tin, có thể thọ, có thể tu, có thể đắc, có thể biết, có thể chứng, có thể thành tựu, và có thể trở thành một tánh bình đẳng cùng chư Phật.
Vì sao thế? Bởi vị Bồ-tát này:
- vì khiến mạng mạch của tất cả Như Lai không bị đứt đoạn mà phát tâm;
- vì làm cho Pháp của Phật bao trùm tất cả thế giới mà phát tâm;
- vì độ thoát chúng sanh trong tất cả thế giới mà phát tâm;
- vì muốn biết hết sự thành lập và hoại diệt của tất cả thế giới mà phát tâm;
- vì muốn biết hết cấu nhiễm và thanh tịnh của chúng sanh trong tất cả thế giới mà phát tâm;
- vì muốn biết hết thanh tịnh của ba cõi trong tất cả thế giới mà phát tâm;
- vì muốn biết hết lòng mong muốn, phiền não, và tập khí của tất cả chúng sanh mà phát tâm;
- vì muốn biết hết về khi chết ở đây rồi sanh nơi kia của tất cả chúng sanh mà phát tâm;
- vì muốn biết hết các căn và phương tiện của tất cả chúng sanh mà phát tâm;
- vì muốn biết hết tâm hành của tất cả chúng sanh mà phát tâm;
- vì muốn biết hết sự hiểu biết khắp ba đời của tất cả chúng sanh mà phát tâm.
Do bởi phát tâm nên họ:
- luôn được ghi nhớ bởi tất cả chư Phật khắp ba đời;
- sẽ được Đạo vô thượng của tất cả chư Phật khắp ba đời;
- liền được ban cho diệu Pháp bởi tất cả chư Phật khắp ba đời;
- liền đồng thể tánh bình đẳng với tất cả chư Phật khắp ba đời;
- đã tu các Pháp Trợ Đạo của tất cả chư Phật khắp ba đời;
- thành tựu Mười Lực và Bốn Không Sợ Hãi của tất cả chư Phật khắp ba đời;
- trang nghiêm 18 Pháp Chỉ Dành Riêng cho Phật của tất cả chư Phật khắp ba đời;
- và tất được trí tuệ thuyết Pháp của hết thảy chư Phật khắp Pháp Giới.
Vì sao thế? Bởi do phát khởi tâm này nên họ sẽ được thành Phật.
Phải nên biết người ấy:
- liền đồng như chư Phật khắp ba đời,
- liền được cảnh giới bình đẳng với chư Phật Như Lai khắp ba đời,
- liền được công đức bình đẳng với chư Phật Như Lai khắp ba đời,
- và được trí tuệ chân thật thấu rõ cứu cánh bình đẳng về một thân và vô lượng thân của Như Lai.
Khi họ vừa mới phát tâm:
- liền được hết thảy chư Phật trong mười phương cùng xưng tán;
- liền có thể thuyết Pháp giáo hóa và điều phục toàn bộ chúng sanh trong tất cả thế giới;
- liền có thể chấn động tất cả thế giới;
- liền có thể soi sáng tất cả thế giới;
- liền có thể diệt tan khổ ách của các đường ác trong tất cả thế giới;
- liền có thể thanh tịnh trang nghiêm hết thảy quốc độ;
- liền có thể thị hiện thành Phật ở trong tất cả thế giới;
- liền có thể khiến hết thảy chúng sanh đều được hoan hỷ;
- liền có thể vào tánh của toàn bộ Pháp Giới;
- liền có thể gìn giữ mạng mạch của tất cả chư Phật;
- và liền có thể được trí tuệ quang minh của hết thảy chư Phật.
Vị Bồ-tát sơ phát tâm này chẳng có một chút gì đạt được ở trong ba đời. Đó là nói,
- dù là chư Phật hoặc là Pháp của chư Phật,
- dù là Bồ-tát hoặc là Pháp của Bồ-tát,
- dù là Độc Giác hoặc là Pháp của Độc Giác,
- dù là Thanh Văn hoặc là Pháp của Thanh Văn,
- dù là thế gian hoặc là pháp của thế gian,
- dù là xuất thế gian hoặc là Pháp của xuất thế gian,
- dù là chúng sanh hoặc là pháp của chúng sanh,
thì họ chỉ cầu Nhất Thiết Trí và tâm của họ không chấp trước bất cứ gì ở trong các cõi giới của pháp."
Lúc bấy giờ, do thần lực của Phật nên mỗi phương trong mười phương có thế giới nhiều như số vi trần của 10.000 cõi Phật đều chấn động sáu cách, gồm có: chuyển động, khắp nơi chuyển động, khắp nơi đồng thời chuyển động, trỗi dậy, khắp nơi trỗi dậy, khắp nơi đồng thời trỗi dậy, vọt ra, khắp nơi vọt ra, khắp nơi đồng thời vọt ra, rung động, khắp nơi rung động, khắp nơi đồng thời rung động, gầm rống, khắp nơi gầm rống, khắp nơi đồng thời gầm rống, va đập, khắp nơi va đập, khắp nơi đồng thời va đập.
Khi ấy trời mưa xuống nhiều loại hoa cõi trời, hương thơm cõi trời, hương bột cõi trời, vòng hoa cõi trời, y phục cõi trời, châu báu cõi trời, và phẩm vật trang nghiêm cõi trời. Các loại âm nhạc cõi trời vang lên và chúng phóng ánh sáng cõi trời cùng với âm thanh cõi trời.
Lúc bấy giờ, vượt qua số lượng thế giới ở mỗi phương trong mười phương nhiều như số vi trần của mười cõi Phật, có chư Phật nhiều như số vi trần của 10.000 cõi Phật và đều đồng một danh hiệu là Pháp Tuệ.
Mỗi vị đều hiện thân của mình ở trước Pháp Tuệ Bồ-tát và bảo rằng:
"Lành thay, lành thay, Pháp Tuệ! Ông nay có thể thuyết giảng Pháp này. Chư Phật chúng tôi từ mỗi phương trong mười phương nhiều như số vi trần của 10.000 cõi Phật cũng thuyết giảng Pháp này. Tất cả chư Phật cũng thuyết giảng như thế. Khi ông thuyết giảng Pháp này thì có số lượng Bồ-tát nhiều như vi trần của 10.000 cõi Phật phát khởi Đạo tâm.
Bây giờ chúng tôi sẽ thọ ký hết cho họ:
'Vượt qua 1.000 bất khả thuyết vô biên kiếp ở vào đời vị lai, họ đều được thành Phật trong một kiếp giống nhau. Khi xuất hiện ở thế gian, các Ngài đồng hiệu là Thanh Tịnh Tâm Như Lai. Những thế giới mà chư Phật kia an trụ thảy đều khác nhau.'
Chúng tôi sẽ cùng hộ trì Pháp này và khiến cho hết thảy Bồ-tát nào ở vào đời vị lai mà chưa từng nghe qua thì tất đều được nghe.
Như ở trên đỉnh núi Diệu Cao trong bốn châu thiên hạ của Thế giới Kham Nhẫn này, ông đã thuyết giảng Pháp như thế để khiến cho các chúng sanh nghe rồi mà tiếp thọ hóa độ, thì 1.000 tỷ nayuta, vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết thế giới, cho đến tận cùng của Pháp Giới và cõi giới hư không, ở trong các thế giới khắp mười phương như thế cũng thuyết giảng Pháp này để giáo hóa chúng sanh. Những vị thuyết giảng Pháp này đều đồng một danh hiệu là Pháp Tuệ.
Họ thuyết giảng Pháp như thế:
- là do thần lực của Phật,
- là do sức bổn nguyện của Thế Tôn,
- là vì muốn hiển thị Pháp của Phật,
- là vì muốn dùng ánh sáng của trí tuệ soi khắp,
- là vì muốn mở bày thật nghĩa,
- là vì khiến chúng sanh chứng đắc pháp tánh,
- là vì khiến chúng hội đều hoan hỷ,
- là vì muốn khai thị nhân của Phật Pháp,
- là vì được bình đẳng của tất cả chư Phật,
- và là vì rõ Pháp Giới chẳng hai."
Lúc bấy giờ Pháp Tuệ Bồ-tát quán sát khắp hết thảy chúng hội ở các quốc độ trong mười phương tận cùng cõi giới hư không:
- vì muốn thành tựu hết các chúng sanh,
- vì muốn trừ sạch hết các nghiệp và quả báo,
- vì muốn mở ra rõ ràng hết Pháp Giới thanh tịnh,
- vì muốn nhổ trừ hết gốc rễ của tạp nhiễm,
- vì muốn tăng trưởng hết tín giải rộng lớn,
- vì muốn khiến biết hết các căn của vô lượng chúng sanh,
- vì muốn khiến biết hết các pháp bình đẳng ở ba đời,
- vì muốn khiến quán sát hết cõi giới của tịch diệt,
- và vì muốn tăng trưởng căn lành thanh tịnh của chính mình.
Nương vào uy lực của Phật, ngài liền nói kệ rằng:
"Vì lợi thế gian phát đại tâm
Tâm ấy chu biến khắp mười phương
Chúng sanh, quốc độ, pháp ba đời
Phật cùng Bồ-tát biển tối thắng
Tận cùng hư không bằng Pháp Giới
Toàn bộ tất cả các thế gian
Như Pháp chư Phật đều đi đến
Phát tâm như thế không thoái chuyển
Từ niệm chúng sanh chẳng tạm rời
Lìa mọi não hại lợi ích khắp
Chiếu sáng thế gian làm chỗ nương
Mười Lực hộ niệm chẳng nghĩ bàn
Mười phương quốc độ thảy vào hết
Tất cả hình sắc đều thị hiện
Như phước trí Phật rộng vô biên
Tùy thuận tu nhân không chấp trước
Có cõi hướng lên, đảo ngược, ngang
Thô diệu rộng lớn vô lượng loại
Bồ-tát phát khởi tâm tối thượng
Có thể đi đến chẳng ngăn ngại
Bồ-tát thắng hành bất khả thuyết
Đều siêng tu tập không chỗ trụ
Thấy tất cả Phật luôn hân hoan
Vào khắp biển sâu Pháp Như Lai
Thương xót chúng sanh trong năm đường
Khiến trừ cấu uế thanh tịnh khắp
Nối tiếp Phật chủng không đoạn tuyệt
Tồi diệt ma cung chẳng thừa sót
Đã trụ Như Lai tánh bình đẳng
Khéo tu vi diệu đạo phương tiện
Đối cảnh giới Phật khởi tín tâm
Được Phật quán đảnh lìa chấp trước
Họ nhớ báo ơn Lưỡng Túc Tôn
Tâm như kim cang không trở ngại
Có thể soi rõ Phật sở hành
Tự nhiên tu tập tuệ giác hành
Các đường khác nhau tưởng vô lượng
Nghiệp quả cùng tâm cũng chẳng một
Cho đến căn tánh muôn đặc thù
Phát khởi đại tâm tất thấy rõ
Tâm họ rộng lớn bằng Pháp Giới
Chẳng nương chẳng đổi như hư không
Hướng về trí Phật không chỗ nắm
Thấu rõ thật tế lìa phân biệt
Biết tâm chúng sanh vô sanh tưởng
Liễu đạt các pháp vô pháp tưởng
Tuy phân biệt khắp lìa phân biệt
Đi đến ức cõi nayuta
Vô lượng chư Phật diệu Pháp tạng
Tùy thuận quán sát đều khéo vào
Chúng sanh căn hành biết rõ hết
Đến nơi như thế như Thế Tôn
Đại nguyện thanh tịnh luôn tương ứng
Thích cúng dường Phật mãi không thôi
Trời người chẳng hề chán thấy họ
Luôn được hộ niệm bởi chư Phật
Tâm họ thanh tịnh không chỗ nương
Tuy quán thâm Pháp chẳng nắm giữ
Tư duy như thế vô lượng kiếp
Vẫn không chấp trước khắp ba đời
Tâm họ kiên cố khó ngăn trở
Hướng Phật tuệ giác không chướng ngại
Chí cầu diệu Đạo trừ si mê
Đi khắp Pháp Giới chẳng mỏi mệt
Biết pháp ngôn ngữ đều tịch diệt
Chỉ vào Chân Như đoạn tà giải
Cảnh giới chư Phật tùy thuận quán
Tâm được vô ngại khắp ba đời
Bồ-tát sơ phát quảng đại tâm
Liền có thể đến mười phương cõi
Pháp môn vô lượng bất khả thuyết
Tuệ quang soi khắp đều minh liễu
Đại bi rộng độ tối vô song
Tâm từ rải khắp bằng hư không
Mà đối chúng sanh chẳng phân biệt
Thanh tịnh như vậy dạo thế gian
Mười phương chúng sanh an ủi khắp
Tất cả việc làm đều chân thật
Luôn dùng tịnh tâm lời chẳng khác
Luôn được chư Phật cùng gia hộ
Nhớ trọn mọi việc ở quá khứ
Mọi thứ vị lai phân biệt hết
Mười phương thế giới đều vào khắp
Vì độ chúng sanh khiến xuất ly
Bồ-tát đầy đủ diệu trí quang
Khéo rõ nhân duyên không hoài nghi
Tất cả si mê đều đoạn trừ
Như thế du hành khắp Pháp Giới
Cung điện ma vương tồi phá hết
Chúng sanh màng đục diệt trừ sạch
Lìa mọi phân biệt tâm bất động
Khéo rõ cảnh giới của Như Lai
Lưới nghi ba đời đã chặt đứt
Khởi tin thanh tịnh ở Như Lai
Do tín được thành trí bất động
Bởi trí thanh tịnh rõ chân thật
Vì khiến chúng sanh được xuất ly
Làm lợi ích khắp tận vị lai
Mãi luôn chịu khổ lòng không chán
Cho đến địa ngục yên lặng thọ
Vô lượng phước trí đều trọn đủ
Chúng sanh căn tánh tất biết rõ
Và các nghiệp hành cũng thấy hết
Tùy họ vui thích mà thuyết Pháp
Biết rõ tất cả không vô ngã
Tâm từ chúng sanh luôn chẳng bỏ
Với một đại bi vi diệu âm
Vào khắp thế gian mà diễn nói
Phóng ánh sáng lớn đủ mọi màu
Chiếu khắp chúng sanh xua tối tăm
Bồ-tát ngồi trên tòa sen sáng
Xiển dương tịnh Pháp cho chúng sanh
Hiện các quốc độ trên đầu lông
Chư đại Bồ-tát đầy kín khắp
Chúng hội trí tuệ mỗi chẳng đồng
Nhưng khéo thấu rõ tâm chúng sanh
Mười phương thế giới bất khả thuyết
Một niệm du hành chẳng thừa sót
Lợi ích chúng sanh cúng dường Phật
Ở nơi chư Phật hỏi nghĩa thâm
Nghĩ tưởng như cha đối Như Lai
Vì lợi chúng sanh tu giác hành
Trí tuệ thiện xảo rõ Pháp tạng
Vào sâu nơi trí không chấp trước
Tùy thuận tư duy giảng Pháp Giới
Suốt vô lượng kiếp chẳng cùng tận
Dù trí khéo vào không chỗ trụ
Chẳng hề chán mỏi lìa chấp trước
Sanh vào nhà Phật ở ba đời
Chứng đắc Như Lai diệu Pháp thân
Rộng vì hữu tình hiện sắc tướng
Không gì chẳng hiện như huyễn sư
Hoặc hiện mới tu thù thắng hành
Hoặc hiện đản sanh hoặc xuất gia
Hoặc hiện thành Đạo ở dưới cây
Hoặc vì chúng sanh vào tịch diệt
Bồ-tát an trụ Pháp hy hữu
Chỉ cảnh giới Phật phi Nhị Thừa
Thân ngữ ý tưởng đã trừ sạch
Đủ mọi tùy nghi đều khéo hiện
Bồ-tát sở đắc Pháp của Phật
Chúng sanh tư duy phát cuồng loạn
Trí vào thật tế tâm vô ngại
Hiện khắp Như Lai sức tự tại
Trong khắp thế gian không ai bằng
Hà huống tăng thêm thù thắng hành
Tuy chưa đầy đủ Nhất Thiết Trí
Đã được Như Lai sức tự tại
Đã trụ cứu cánh Đạo Nhất Thừa
Vào sâu vi diệu Pháp tối thượng
Khéo biết chúng sanh thời phi thời
Vì lợi ích họ hiện thần thông
Phân thân đầy kín tất cả cõi
Phóng tịnh quang minh xua tối tăm
Ví như vua rồng khởi mây lớn
Cơn mưa nhiệm mầu rưới tràn khắp
Quán sát chúng sanh như huyễn mộng
Do bởi nghiệp lực luôn lưu chuyển
Đại bi thương xót cứu vớt hết
Thuyết giảng vô vi tịnh pháp tánh
Sức Phật vô lượng đây cũng vậy
Ví như hư không rộng vô biên
Vì khiến chúng sanh được giải thoát
Ức kiếp siêng tu mà chẳng mệt
Đủ mọi tư duy diệu công đức
Khéo tu vô thượng đệ nhất nghiệp
Các hành thù thắng luôn chẳng bỏ
Chuyên niệm thành tựu Nhất Thiết Trí
Một thân thị hiện vô lượng thân
Tất cả thế giới chu biến khắp
Tâm họ thanh tịnh lìa phân biệt
Một niệm phi thường sức như thế
Mọi thứ thế gian không phân biệt
Đối hết thảy pháp không vọng tưởng
Tuy quán các pháp chẳng nắm giữ
Luôn cứu chúng sanh độ tất cả
Hết thảy thế gian chỉ là tưởng
Trong ấy đủ mọi mỗi sai khác
Biết cảnh giới tưởng hiểm trở sâu
Thị hiện thần thông mà cứu thoát
Như nhà huyễn thuật sức tự tại
Bồ-tát thần biến cũng như thế
Thân trùm Pháp Giới cùng hư không
Tùy tâm chúng sanh ai cũng thấy
Năng sở phân biệt lìa cả hai
Tạp nhiễm thanh tịnh không chỗ nắm
Trói buộc giải thoát, trí đều quên
Chỉ nguyện ban khắp chúng sanh vui
Thế gian tạo bởi sức của tưởng
Dùng trí mà vào tâm không sợ
Tư duy các pháp cũng như vậy
Ba đời khảo sát chẳng thể được
Khéo vào quá khứ ranh giới trước
Khéo vào vị lai ranh giới sau
Khéo vào hiện tại mọi nơi chốn
Luôn siêng quán sát không chỗ có
Tùy thuận diệt độ Pháp tịch diệt
Trụ ở vô tranh chẳng chỗ nương
Tâm như thật tế không ai bằng
Chuyên hướng tuệ giác vĩnh chẳng lui
Chẳng lui chẳng sợ tu thắng hành
An trụ tuệ giác bất động dao
Chư Phật Bồ-tát và thế gian
Tận cùng Pháp Giới đều thấu rõ
Muốn được tối thắng đệ nhất Đạo
Làm vua giải thoát Nhất Thiết Trí
Hãy nên mau phát khởi Đạo tâm
Vĩnh đoạn các lậu lợi hữu tình
Hướng về tuệ giác tâm thanh tịnh
Công đức rộng lớn bất khả thuyết
Vì lợi chúng sanh nên giảng thuật
Chư vị hiền thánh hãy lắng nghe
Vô lượng thế giới nát thành bụi
Trong mỗi vi trần vô lượng cõi
Trong đó chư Phật nhiều vô lượng
Không chỗ nắm giữ khéo thấy rõ
Khéo biết chúng sanh vô sanh tưởng
Khéo biết ngôn ngữ vô ngữ tưởng
Ở các thế giới tâm vô ngại
Tất khéo biết rõ chẳng chấp trước
Tâm họ rộng lớn như hư không
Những việc ba đời thảy minh đạt
Tất cả hoài nghi đều diệt trừ
Chánh quán Phật Pháp không chỗ nắm
Vô lượng quốc độ trong mười phương
Một niệm đi đến tâm không chấp
Liễu đạt thế gian các pháp khổ
Đều trụ vô sanh chân thật tế
Vô lượng chỗ Phật chẳng nghĩ bàn
Đều đến hội kia mà thân cận
Luôn làm thượng thủ hỏi Như Lai
Bồ-tát nơi tu các nguyện hành
Tâm luôn ghi nhớ mười phương Phật
Mà không chỗ nương không chỗ nắm
Luôn khuyên chúng sanh gieo căn lành
Trang nghiêm quốc độ khiến thanh tịnh
Mọi nơi chúng sanh trong ba cõi
Dùng mắt vô ngại quán sát khắp
Tập khí căn tánh sự hiểu biết
Vô lượng vô biên tất thấy rõ
Chúng sanh mong muốn thảy biết rõ
Như thế tùy nghi mà thuyết Pháp
Đối với nhiễm tịnh đều thông đạt
Khiến họ tu tập bước vào Đạo
Vô lượng vô số các Đẳng Trì
Bồ-tát một niệm khéo vào hết
Trong tưởng và trí cùng chỗ duyên
Tất khéo biết rõ được tự tại
Bồ-tát được trí quảng đại này
Mau hướng tuệ giác không ngăn ngại
Vì muốn lợi ích các hữu tình
Nơi nơi tuyên dương Pháp đại nhân
Khéo biết thế gian kiếp dài ngắn
Một tháng nửa tháng hoặc ngày đêm
Quốc độ sai khác tánh bình đẳng
Luôn siêng quán sát chẳng buông lung
Đến khắp thế giới trong mười phương
Mà ở phương xứ không chỗ nắm
Nghiêm tịnh quốc độ chẳng thừa sót
Cũng chưa từng sanh tịnh phân biệt
Có thể không thể về chúng sanh
Cùng nghiệp sai khác cảm thọ báo
Tùy thuận tư duy vào sức Phật
Đối những việc này tất biết rõ
Tất cả thế gian đủ mọi tánh
Đủ mọi thực hành trụ ba cõi
Lợi căn cùng với trung hạ căn
Như thế hết thảy đều quán sát
Tịnh với bất tịnh mọi hiểu biết
Dù thượng trung hạ tất thấy rõ
Điểm cuối thực hành của chúng sanh
Ba cõi tương tục đều khéo giảng
Tĩnh lự giải thoát và Đẳng Trì
Nhiễm tịnh nhân khởi mỗi chẳng giống
Cùng với khổ vui ở đời trước
Tịnh tu Phật lực khéo thấy hết
Chúng sanh nghiệp mê mãi tương tục
Đoạn các đường này được tịch diệt
Đủ mọi lậu pháp vĩnh không sanh
Cùng mầm tập khí tất biết rõ
Như Lai trừ sạch mọi phiền não
Đại trí quang minh soi thế gian
Bồ-tát đối với Phật Mười Lực
Tuy chưa chứng đắc cũng chẳng nghi
Bồ-tát ở trong một chân lông
Hiện khắp mười phương vô lượng cõi
Hoặc có tạp nhiễm hay thanh tịnh
Đủ mọi nghiệp hành đều khéo rõ
Trong một vi trần vô lượng cõi
Vô lượng chư Phật cùng Phật tử
Mỗi cõi mỗi khác không tạp loạn
Như một tất cả đều thấy rõ
Trong một chân lông thấy mười phương
Tận cùng hư không các thế gian
Chẳng một nơi nào không có Phật
Cõi Phật như thế đều thanh tịnh
Trong một chân lông thấy cõi Phật
Lại thấy hết thảy các chúng sanh
Ba đời sáu đường mỗi chẳng giống
Ngày đêm bị siết hoặc giải thoát
Như thế đại trí chư Bồ-tát
Chuyên tâm hướng về Pháp Vương vị
Ở chỗ Phật trụ thuận tư duy
Nên được vô biên đại hoan hỷ
Bồ-tát phân thân vô lượng ức
Cúng dường tất cả chư Như Lai
Thần thông biến hiện không gì sánh
Nơi Phật sở hành đều khéo trụ
Nơi vô lượng Phật đều ngưỡng trông
Đắm mình trong vị mọi Pháp tạng
Thấy Phật nghe Pháp siêng tu hành
Như uống cam lộ tâm hoan hỷ
Đã được Như Lai thắng Đẳng Trì
Khéo vào các pháp trí tăng trưởng
Tín tâm bất động như Diệu Cao
Rộng làm hữu tình tạng công đức
Tâm từ rộng lớn khắp chúng sanh
Thảy nguyện mau thành Nhất Thiết Trí
Luôn không chấp trước không chỗ nương
Lìa mọi phiền não được tự tại
Thương xót chúng sanh trí quảng đại
Nhiếp khắp tất cả giống như mình
Biết không, vô tướng, chẳng chân thật
Tu hành tâm mình chẳng thoái lười
Bồ-tát phát tâm công đức có
Ức kiếp tuyên dương chẳng thể hết
Do vì mang đến chư Như Lai
Độc Giác Thanh Văn niềm an vui
Mười phương quốc độ các chúng sanh
Đều ban an vui vô lượng kiếp
Khuyên trì Năm Giới Mười Nghiệp Lành
Bốn Vô Lượng Tâm, tĩnh lự, định
Lại trong nhiều kiếp ban an vui
Khiến đoạn si mê thành Ưng Chân
Phước tụ của họ tuy vô lượng
Công đức phát tâm không gì sánh
Lại dạy ức chúng thành Duyên Giác
Đắc vô tranh hành Đạo nhiệm mầu
Dùng đó mà so với phát tâm
Toán số thí dụ chẳng thể đến
Một niệm khéo vượt trần số cõi
Như thế trải qua vô lượng kiếp
Số lượng quốc độ còn tính được
Công đức phát tâm không thể biết
Quá khứ hiện tại cùng vị lai
Toàn bộ kiếp số nhiều vô biên
Những kiếp số này còn biết được
Công đức phát tâm chẳng thể lường
Do bởi Đạo tâm khắp mười phương
Toàn bộ phân biệt đều biết hết
Một niệm ba đời thảy minh đạt
Lợi ích vô lượng các chúng sanh
Mười phương thế giới các chúng sanh
Khát vọng, tin hiểu, cõi hư không
Phương tiện, tâm hành, còn tính được
Công đức phát tâm khó suy lường
Bồ-tát chí nguyện bằng mười phương
Tâm từ rải khắp các hữu tình
Đều khiến tu thành Phật công đức
Cho nên sức họ vô biên tế
Chúng sanh khát vọng, lòng yêu thích
Phương tiện, thực hành, căn sai khác
Ở trong một niệm tất biết rõ
Nhất Thiết Trí Trí tâm đồng nhau
Tất cả chúng sanh nghiệp si mê
Ba cõi tương tục không tạm dừng
Ranh giới của chúng còn biết được
Công đức phát tâm chẳng nghĩ bàn
Phát tâm khéo lìa nghiệp phiền não
Cúng dường hết thảy chư Như Lai
Đã lìa nghiệp mê, đoạn tương tục
Khắp ở ba đời được giải thoát
Một niệm cúng dường vô biên Phật
Cũng thí vô số các chúng sanh
Thảy dùng hương hoa vòng hoa xinh
Tràng phan lọng báu y phục đẹp
Món ngon tòa báu nơi kinh hành
Đủ mọi cung điện trang nghiêm quý
Quang minh biến chiếu diệu bảo châu
Như ý bảo châu tỏa sáng ngời
Niệm niệm như thế dâng cúng cường
Suốt vô lượng kiếp bất khả thuyết
Phước tụ người ấy tuy rất nhiều
Không bằng phát tâm công đức lớn
Đủ mọi thí dụ đã thuyết giảng
Không một cái nào bằng phát tâm
Bởi khắp ba đời Nhân Trung Tôn
Đều từ phát tâm mà sanh ra
Phát tâm vô ngại cũng vô hạn
Muốn đo lường nó chẳng thể được
Nhất Thiết Trí Trí nguyện thành tựu
Toàn bộ chúng sanh mãi hóa độ
Phát tâm rộng lớn bằng hư không
Sanh các công đức đồng Pháp Giới
Thực hành biến khắp chẳng sai khác
Vĩnh lìa chấp trước, Phật bình đẳng
Hết thảy Pháp môn đều vào khắp
Hết thảy quốc độ đều đi đến
Hết thảy trí cảnh đều thông đạt
Hết thảy công đức đều thành tựu
Luôn khéo liên tục xả tất cả
Thanh tịnh giới phẩm chẳng chấp trước
Đầy đủ vô thượng công đức lớn
Luôn siêng tinh tấn không thoái chuyển
Vào sâu tĩnh lự luôn tư duy
Trí tuệ quảng đại cùng tương ứng
Đầy là Bồ-tát địa tối thắng
Sanh ra hết thảy Đạo Phổ Hiền
Ba đời tất cả chư Như Lai
Thảy đều hộ niệm sơ phát tâm
Đẳng Trì Tổng Trì dùng trang nghiêm
Thần thông biến hóa gia trì họ
Mười phương chúng sanh nhiều vô lượng
Thế giới hư không cũng như vậy
Phát tâm vô lượng vượt hơn kia
Nên có thể sanh tất cả Phật
Đạo tâm là gốc của Mười Lực
Cũng là biện tài gốc vô úy
Cùng với Mười Tám Pháp Dành Riêng
Không gì chẳng từ phát tâm được
Chư Phật sắc tướng trang nghiêm thân
Cùng với bình đẳng diệu Pháp thân
Trí tuệ vô trước xứng cúng dường
Đều do phát tâm mà có được
Tất cả Độc Giác Thanh Văn Thừa
Cõi sắc tĩnh lự Đẳng Trì vui
Cùng cõi vô sắc các Đẳng Trì
Đều do phát tâm làm căn bổn
Hết thảy trời người tự tại vui
Cùng với các đường mọi vui sướng
Căn Lực sanh khởi các điều vui
Không gì chẳng do từ phát tâm
Nhân bởi phát khởi tâm rộng lớn
Nên khéo tu hành Pháp Sáu Độ
Khuyên các chúng sanh tu chánh hành
Ở trong ba cõi thọ an vui
Trụ Phật vô ngại trí thật nghĩa
Toàn bộ diệu nghiệp đều mở bày
Khéo khiến vô lượng các chúng sanh
Đoạn hết nghiệp mê hướng tịch diệt
Trí tuệ quang minh như tịnh nhật
Các hành trọn đủ như trăng rằm
Công đức luôn tràn như biển cả
Vô cấu vô ngại đồng hư không
Rộng phát vô biên công đức nguyện
Trọn ban an vui cho tất cả
Tận cùng vị lai theo nguyện hành
Luôn siêng tu tập độ chúng sanh
Vô lượng đại nguyện chẳng nghĩ bàn
Nguyện khiến chúng sanh đều thanh tịnh
Không, vô tướng, nguyện, chẳng chỗ nương
Do bởi nguyện lực hiển lộ rõ
Rõ pháp tự tánh như hư không
Tất cả tịch diệt thảy bình đẳng
Pháp môn vô số bất khả thuyết
Vì chúng sanh giảng không chấp trước
Mười phương thế giới chư Như Lai
Đều cùng ngợi khen sơ phát tâm
Tâm ấy trang nghiêm vô lượng đức
Khéo qua bờ kia đồng như Phật
Như số chúng sanh trong nhiều kiếp
Nói công đức họ chẳng thể hết
Do trụ Như Lai nhà rộng lớn
Ba cõi các pháp không thể sánh
Muốn biết hết thảy Pháp chư Phật
Hãy mau phát tâm thành tựu Đạo
Tâm ấy công đức là tối thắng
Tất được Như Lai trí vô ngại
Chúng sanh tâm hành còn đếm biết
Quốc độ vi trần cũng như vậy
Hư không biên tế có thể đo
Công đức phát tâm chẳng thể lường
Sanh ra ba đời tất cả Phật
Thành tựu thế gian mọi vui sướng
Tăng trường hết thảy thắng công đức
Vĩnh viễn chặt đứt mọi hoài nghi
Khai thị tất cả diệu cảnh giới
Trừ sạch hết thảy mọi chướng ngại
Thành tựu tất cả cõi thanh tịnh
Sanh ra hết thảy trí Như Lai
Muốn thấy mười phương tất cả Phật
Muốn thí vô tận tạng công đức
Muốn diệt chúng sanh mọi khổ não
Hãy mau phát tâm thành tựu Đạo"
Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm ♦ Hết quyển 17
Dịch sang cổ văn: Pháp sư Hỷ Học (652-710)
Dịch sang tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Dịch nghĩa: 30/6/2024 ◊ Cập nhật: 13/9/2026
Dịch sang tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Dịch nghĩa: 30/6/2024 ◊ Cập nhật: 13/9/2026
☸ Cách đọc âm tiếng Phạn
nayuta: na du ta